Góp phần nghiên cứu Lê Quí Ðôn
Khảo đính văn bản Vân Ðài Loại Ngữ và các bản dịch

Ðọc tiếp Vân Ðài Loại Ngữ

Yếu mục
I. 1. Tiểu dẫn bài kì này
    2. Bổ sung bài kì trước và đáp độc giả
    3. Phàm lệ mới
II. Tiếp tục khảo đính và dịch chương "Phẩm Vật"
 

I.1. Tiểu dẫn bài kì này

Với những ai chưa có dịp đọc bài kì trước của tôi đã đăng trong Tập san Khoa Học Xã Hội số 5, trang 63-80, in ra cách đây đúng một năm, tôi xin nhắc lại ý nghĩa của những chữ viết tắt tên một số nhân vật và tác phẩm mà tôi đã và sẽ vẫn còn áp dụng, nhằm đạt sự giản tiện, vừa tiết kiệm được giấy mực lại vừa đỡ rườm mắt người đọc, lại thêm phần nhẹ nhõm cho người viết bài (cũng là người đánh máy!).

Tôi không lạm dụng thói viết tắt ấy, vì muốn tránh cho người đọc phải học thuộc nhiều chữ tắt quá, hóa ra gai mắt; nhưng thiết tưởng những tên xuất hiện nhiều lần, thật ra không nhiều lắm, gặp mãi cũng hóa quen:
Tên viết tắt: Trước hết là tên "đương sự", LQÐ: Lê Quí Ðôn, và tác phẩm của ông, như VÐLN: Vân Ðài Loại Ngữ. Rồi đến tên một vài tài liệu tham khảo (mà Lê Quí Ðôn hay trích dẫn) như BTCM: Bản Thảo Cương Mục của Lí Thì-trấn; QÐTN: Quảng Ðông Tân Ngữ của Khuất Ðại-quân; Thông Giám: Tự Trị Thông Giám của Tư-mã Quang (có kèm chú thích của Hồ Tam-tỉnh); Uyên Giám: Uyên Giám Loại Hàm của văn thần đời Khang Hi1.

Sau phần gai góc trên đây, tôi xin kể một chút kí sự về quãng thời gian một năm tròn giữa bài kì trước và bài kì này, một năm khá đặc biệt trong cuộc đời biên khảo tịch mịch của tôi bấy lâu nay, vì đã cho tôi sống những bước kinh lịch gây hoàn cảnh thuận tiện và khích lệ cho nỗ lực xúc tiến hồ sơ khảo đính văn bản sách Vân Ðài Loại Ngữ. Hồ sơ này thật ra không có nhiều bí hiểm, nhưng khá phức tạp, nghĩa là muốn dò ra đích xác văn gốc trong từng mục, từng đoạn, từng câu, từng chữ, và dựa vào đó mà duyệt xem các thoại Vân Ðài Loại Ngữ hiện lưu hành (kể cả bản chép tay chữ Hán lẫn các bản dịch của Trần Văn Giáp, và Tạ Quang Phát) đáng tin cậy đến độ nào, phải có nhiều thì giờ để kiểm tra tài liệu cho thật kĩ, thật rộng, phải có điều kiện "đi săn" sách cổ, mà phải không ngã lòng nản chí trong hành trình đơn thương độc mã như tôi đã khởi sự làm. Ở nơi kí ngụ xa xôi này, tuy không phải nỗi quá khốn vì chuyện lo "tương cà mắm muối", nhưng kẻ khảo cứu (nhất là khảo cứu về cổ học) rất dễ thối chí chùn chân, ít nhất thì cũng khó tập trung và chuyên chú, hoặc khó tránh cho công việc rơi vào trừu tượng và khô khan, một khi đã ngâm quá lâu trong tâm trạng thiếu quê hương, dãn xa thực tại cụ thể của đất nước.

Trong năm vừa qua, nhân được cử đi tham gia công tác sử học với viện Ðông Nam Á (thuộc Sở Nghiên Cứu Văn Hóa Trung Quốc) của Trung Văn Ðại Học ở Hương Cảng, tôi đã có dịp, trong bốn tháng liền, làm hai việc phục vụ sát cho hồ sơ Vân Ðài Loại Ngữ. Trước hết là nhân có "địa lợi" (vì nơi đất Cảng này có nhiều thư điếm và nhà phát hành buôn bán và tái bản sách Hán học cổ kim; phương tiện thuê làm ảnh sao (photocopie) cũng phổ biến và khá rẻ), mà tìm được một số nguồn tư liệu mà tôi biết chắc hoặc phỏng đoán là Lê Quí Ðôn có tham khảo, không nhiều thì ít, để rút ra những trích dẫn phong phú tụ tập trong sách Vân Ðài Loại Ngữ. Ở đây, tôi xin miễn kể ra, dù chỉ là sơ lược, danh sách các tư liệu, bạn đọc sẽ gặp dần khi đọc các khảo đính ở phần II trong bài kì này, và trong các kì sau.
Ðất Cảng lại có một nếp sinh hoạt gần giống như ở Việt Nam, các công sở cứ đến 5 giờ chiều là đóng cửa, mà các thư viện trung ương vẫn mở cửa cho đến 10 giờ tối. Ðược cái tiện "thiên thời" ấy, tôi đã có thể dành mỗi ngày chừng bốn năm giờ mà tập trung cân não vào việc đọc sách để khảo duyệt Vân Ðài Loại Ngữ, khám phá ra nhiều điều bất ngờ trong văn bản Vân Ðài Loại Ngữ hiện hành. Vì cố nhiên là tôi có đem theo hồ sơ Vân Ðài Loại Ngữ trong chuyến đi sang cái đất Cảng hoa lệ đầy cám dỗ...
 

Tiếp theo chuyến đi ấy là một chuyến về, về nước suốt ba tháng liền. Ðấy là bước kinh lịch thứ hai của tôi, trong mùa hè vừa qua. Một niềm khích động khó nói. Nhờ sự ân cần chu đáo của Ủy ban Khoa Học Xã Hội, tôi đã có dịp làm việc với các chuyên gia ưu tú của ta về các ngành cổ học, đặc biệt là các anh chị em trong Viện Hán Nôm, có những vị tỏ ra nắm rất sáng suốt, vững vàng tình trạng các tư liệu trực tiếp hay gián tiếp về sự nghiệp của Lê Quí Ðôn: vấn học với họ, bổ ích vô ngần. Việc "góp phần nghiên cứu Lê Quí Ðôn" của tôi nay không còn như tôi đã tưởng là đơn thương độc mã nữa! Khảo duyệt Vân Ðài Loại Ngữ một mình hẳn làm không xuể; nay tôi có thể trông vào sự cộng tác của chuyên gia đồng nghiệp trong nước nữa, còn gì phấn khởi cho bằng? Ấy là chưa kể một hạnh ngộ khác: tôi đã được cùng đi với chuyên gia Viện Hán Nôm đến thăm và làm việc hai lần nơi tỉnh quê của ông Quế Ðường, tức là tỉnh Thái Bình gạo trắng nước trong. Ở đấy cũng có chuyên gia về Lê Quí Ðôn. Ở đấy, mới và cũ giao thoa, sản xuất giỏi, nổi tiếng toàn quốc, mà không khí cổ học vẫn còn đậm, hầu như  nhà nào cũng còn giữ được sách Hán Nôm cổ (nhiều hơn các tỉnh khác thì phải), lắm cụ già vẫn dùng chữ Nôm như ta dùng chữ quốc ngữ vậy. Di tích và di cảo của ông Quế Ðường không còn, nhưng có hề gì: bản sao, chép khá kĩ, vẫn bảo tồn trong thư viện trung ương; Toàn tập Lê Quí Ðôn đã bắt đầu được dịch, nay đã xuất bản 3 cuốn (Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Lê triều thông sử); đồng quê xanh mướt đã hun đúc ra vị nhân tài kiệt xuất vẫn còn đó, con cháu đồng hương của ông Quế Ðường còn đó: Tôi đã gặp người Thái Bình, và từ nay đây cũng là một gắn bó nữa, một động cơ thúc đẩy tôi chóng xúc tiến và hoàn thành việc khảo duyệt Vân Ðài Loại Ngữ nói riêng, và tiếp tục làm việc hữu ích cho ngành Hán Nôm của quê hương xứ sở.
 
 
 

I.2. Bổ sung bài kì trước và đáp độc giả

Trong kì trước, trang 76, mục 9, có hai điều lầm và một chỗ cần bàn thêm. Lầm thứ nhất là niên tuế của Nhan Chi-suy: 531-591 chứ không phải là 391 như đã đánh máy. Lầm thứ hai là các sách hiện còn chép đủ cả ba khúc bài ca Bách-lí Hề: chỉ có sách Nhạc phủ thi tập (ở mục Cầm ca, trong quyển 60) của Quách Mậu-thiên đời Tống là chép trọn đủ; chứ trong Bắc đường thư sao của Ngu Thế-nam đời Ðường (quyển 106, không phải q. 28 như tôi đã ghi lầm) chỉ thấy chép sự tích thôi, mà không có khúc ca nào cả; khúc thứ hai cũng có chép trong bộ Thái bình ngự lãm, quyển 572.

Chỗ cần bàn thêm là về tên của tác giả sách Nhan thị gia huấn: Nhan Chi-suy. Tại sao chữ      tôi lại chủ trương không nên đọc là thôi? Vì nhân vật này có hai tên, tên tục là Chi-suy, tên chữ là Giới; hai tên ấy, nếu đọc liền thì gợi ra một liên tưởng rất dễ thấy, tức là tên một công thần của Tấn Văn-công đời Xuân-thu: Giới Chi-suy (theo thoại trong Tả truyện; theo Trang tử, Sử kí và Hán thư, cũng là Giới Tử-suy), mà ta cũng quen đọc lầm là Giới Tử-thôi (hay Chi-thôi) mỗi khi nói đến tục ăn nguội trong tiết Hàn thực, ngay như trong Vân Ðài Loại Ngữ, chương IX (Phẩm vật), mục 140, cả hai bản dịch (bản A, là bản Trần Văn Giáp, có đánh số điều mục, nên dễ kiếm; bản B, là bản Tạ Quang Phát: tập III, tr. 215) đều đọc là Giới Tử-thôi.
 

Nếu chứng minh được rằng tên tục của vị công thần của Tấn Văn-công phải đọc là Chi-suy (cũng là Tử-suy), sẽ chứng minh rằng tên tục của ông họ Nhan cũng phải đọc như thế. Tôi thấy có hai chứng, một chứng Tàu cổ, một chứng Việt cổ.

Chứng 1. Nơi nói về Giới Chi-suy trong Tả truyện, Hi công năm 24, có phản thiết của Lục Ðức-minh (tác giả sách Kinh điển thích văn) ghi cách đọc lái là xương + thùy, tức là xuy. Lẽ ra, phải đọc là xuy, nhưng ta chuyển ra suy, như trong các từ kép suy diễn, suy luận, suy nghĩ, suy tính.

Chứng 2. Trong bài Tứ thời khúc của Hoàng Sĩ Khải, có đoạn thơ như sau:

Bếp bằng tờ, nhà nhà ăn nguội                89
Nói thì ngừng, đoạn nỗi Tử-suy              90
Chẳng hay cấm lửa làm chi?                   91
'Long xà' khúc ấy nghĩ thì lại thương     92
Xét cách gieo vần, nếu muốn cãi bướng thì cũng có thể cho thì đọc là thời cũng được, ơi vần với ôi là thông lắm, vậy suy vẫn nên đọc là thôi. Nhưng chữ chi thì cắt nghĩa làm sao? Và âm thời chỉ là mới có từ năm kiêng húy Tự-đức, chưa chắc gì đời Hoàng Sĩ Khải, cuối Mạc đầu Trịnh, người ta đã nói âm thời ấy.

Ngoài mấy điều nêu trên đây, một bạn đọc có lưu ý tôi vài điều khác, cần sửa hoặc cần suy nghĩ thêm. Có hạng rất dễ chấp nhận, có hạng cần bàn thêm. Xin lần lượt ứng đáp như sau.
 

Chính tả tên riêng:

- Tên tác phẩm: Không nên quên đường gạch ở dưới, như đã quên gạch dưới Thuyết phu trang 70 dòng 10. Xin nhận lỗi.2

- Tên người: Ðặc biệt là tên người Trung-quốc. Bạn đọc ấy có để ý rằng trong bài kì trước tôi có theo một qui tắc là khi viết đến một người có họ đơn và tên kép thì: 1) không ghép họ với tên, mà để hai bộ phận ấy rời ra; 2) có ghép liền hai thành phần của tên kép bằng cái gạch nối, vì xem hai âm tiết ấy là một từ thuần-nhất có một ý nghĩa duy nhất, thường là nghĩa tốt lành; 3) đã vậy thì chữ đứng đầu âm tiết thứ hai (tức là chữ đứng khít ngay sau gạch nối) phải viết nhỏ, chứ không viết hoa. Vì âm tiết ấy, trong tên kép ấy, không có khả năng đứng một mình (như trong cách gọi nhau của người Việt, xim xem đoạn sau đây).
Vậy thì tôi sơ ý mà viết Hồ Tam Tỉnh -tr. 72 dòng cuối), Khổng Dĩnh Ðạt (tr. 75, dòng 13 từ dưới lên), là sai. Cũng xin nhận lỗi. Phải sửa ra Hồ Tam-tỉnh, Khổng Dĩnh-đạt.

Nhưng đến trường hợp Hoàng-phủ Thực (tr. 73 dòng 20) thì có khác: Ðây là hiện tượng họ kép tên đơn, không riêng gì bạn đọc ấy chưa nhận ra, mà ngay những người có vốn Hán học cũng tỏ ra mơ hồ lắm. Như trong bản dịch Vân Ðài Loại Ngữ, xét riêng bản A (là bản Trần Văn Giáp) thì thấy khi đúng khi sai, họ kép sai nhiều, tên kép (kể cả tự, hiệu lẫn tên tục) cũng sai không ít.
Xin kể một vài trường hợp cho được cụ thể (tôi gạch dưới chỗ sai):

Tự kép:
Trương Tử phòng: tập 2, trang 52, chú 5
Trương Tử Phòng: tập 2, trang 52, chính văn (VII.29)
Tên kép:
Lã Bất-vi: tập 2, trang 51, chú 2
Lã Bất-Vi: phần sách dẫn, trang 305
Họ kép:
- viết hợp qui:
Hoàng-phủ Thực: V.33
Công-dã Tràng: VII.42
Công-tôn Hoằng: VII.54
Tôn-thúc Ngao: VI.66
Tư-mã Quang: VII.82
- viết sai:                                                 nên sửa lại:
Trọng Trường Thống: VII.34                  Trọng-trường Thống
Thân Ðồ Ðịch: VII.46                             Thân-đồ Ðịch
Gia Cát Lượng: VIII.52                           Gia-cát Lượng  (xem IX.121)
Ðộc giả thấy rằng cái gạch nối khi có khi không trong bản dịch A vậy. Sự này không quan trọng cho lắm. Sự viết hoa không đúng cách mới đáng nói, tỏ rằng chưa nhận ra cấu thức và ý nghĩa của từ ngữ (tên riêng cũng là từ ngữ).
 

Còn tên người Việt thì sao? Xưa kia, ta cũng theo cách xưng hô của Tàu (ngày nay họ vẫn giữ cách ấy), nghĩa là ai có tên kép thì phải gọi người ấy bằng cả hai âm tiết. Như trong sử Toàn thư (đây trích theo bản dịch của Viện Sử học, tập I) có chỗ chỉ gọi Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên là Văn Hưu và Phu Tiên (tr. 265), Lí Ông Trọng là Ông Trọng (tr. 67), Lí Công Bình là Công Bình (tr. 262). Thuở ấy, hai âm tiết đi đôi với nhau trong tên kép, vậy có lẽ tên những nhân vật thời cổ đại ấy, ta có quyền viết: Phu-tiên, Văn-hưu, Ông-trọng, Công-bình.
Nhưng đến thời cận đại (chưa biết niên đại đích xác) thì ta có thói quen gọi "xách mé" (hoặc gọi thân mật?), bỏ rơi âm tiết đầu (đời nay cho là tên đệm), chỉ gọi nhau bằng âm tiết cuối thôi: Ngay như tác giả Vân Ðài Loại Ngữ, có người gọi ông là ông bảng Ðôn. Âm tiết cuối ấy không còn lệ thuộc vào âm đứng trước nữa, mà chiếm được địa vị tự túc tự lập. Thậm chí lấn át cả cái âm tiết đứng đầu, biến âm này thành 'tên đệm', do đó có người (số này rất đông) quen dùng chữ nhỏ để viết 'tên đệm'.

Qui tắc của tôi là: Hai thành phần của tên kép ngang nhau, nên viết hoa chữ đầu của cả hai, nhưng không ghép bằng gạch nối nữa, vì âm sau này đã độc lập rồi.
Còn vấn đề họ kép thì ta không có, chẳng cần bàn cãi. Hiện nay, hình như chỉ có một mình ông chủ nhiệm trường đại học Tổng hợp Hà Nội là có họ kép thôi. Chứ như những gia đình Cao Xuân ở Nghệ An, Phan Huy ở Sài-sơn, Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, thì thật ra không phải là họ kép, mà cách gọi để phân biệt chi thứ cho con cháu đừng nhận lầm dòng mình: Như trong họ Ngô, cạnh chi Ngô Thì còn có chi Ngô Duy, Ngô Vi...

Trở lên, chỉ là tiểu tiết thôi, lẽ ra không cần rườm lời những hai trang như thế. Tôi đã cố ý biện luận một chút, là nhân có sự chất vấn của một người đọc mà trình vài nhận xét về một hiện tượng xã hội sử và văn hóa sử, ở những nước có nền sử học trưởng thành, người ta đã có một ngành nghiên cứu riêng, gọi là tính thị học, phát triển song song với ngành địa danh học. Với người ở ngoài lĩnh vực nghiên cứu cổ sử, cố nhiên là nó có vẻ rườm rà tế toái. Nhưng nếu không biết viết tên mình cho đúng cũng là một điều đáng tiếc. Hai trang trên đây chỉ là muốn lưu ý các "nhà văn hóa" Việt kiều, qui tắc noi theo chưa chắc đã đúng hẳn, nhưng ít ra cũng có qui tắc, chứ không phải là tùy tiện.

Sau hết, có một chuyện mà tôi đã tiên đoán là thế nào cũng sẽ có người nêu ra, sau khi đọc bài kì trước, và sẽ còn nói nữa sau bài kì này (và các kì sau), mà không phải là tiểu tiết, vậy cũng cần bàn cho rõ lẽ: Bạn đọc kia (thật là một ông bạn quí báu! Bài kì trước của tôi đã có ít nhất là một độc giả, ở cái đất phồn hoa văn vật này) có phản ảnh ý kiến của ban Biên tập Tập san  Khoa học Xã hội đã đánh giá tốt bài ấy, "tuy cũng có ý cho là khó đọc" (tất cả mọi bài trong số 5 đều mang chung điều nhận định ấy: Khó đọc); bạn ấy có thêm một đề nghị riêng nữa, là khuyên tôi cứ viết tiếp, nhưng sau này nên "đi vào nội dung chương Phẩm vật, có lẽ hấp dẫn hơn".

Sau này, là bao giờ? Theo tôi, một tập sách cổ, lại có tính cách phức tạp như tập Vân Ðài Loại Ngữ, ngổn ngang trăm mối, không dễ gì cho ta "đi vào nội dung" nếu chưa có một hình thức văn tự đáng tin cậy: Nếu chưa chỉnh lí văn bản, khảo đính gốc văn (và sửa lại chỗ sai trong các bản dịch) thì làm sao mà biết được trong Vân Ðài Loại Ngữ đâu là phần trí tuệ sáng tạo và phê phán của Lê Quí Ðôn? Trong từng chương, từng mục, từng đoạn, có khi là từng câu, từng chữ, đâu là phần bình nghị của riêng Lê Quí Ðôn, và đâu chỉ là văn của người khác mà Lê Quí Ðôn trích dẫn? Ðó là công việc ấn định cho loạt bài này, ngõ hầu tìm ra đáp án tường tận và chính xác cho câu hỏi cơ bản ấy, như đã trình trong bài Dẫn kì trước. Ðã vậy thì không thể không khảo chứng, nghĩa là bầy ra một cảnh lởm chởm, vận dụng khá nhiều tư liệu cổ mà người không chuyên môn ít nghe nói; và áp dụng các lề lối biện luận có hơi quanh co, khiến cho người đọc có cái ấn tượng là khó đọc và thiếu hấp dẫn.

Hễ là không chuyên môn về ngành nào thì dễ khó chịu (và thấy chẳng hấp dẫn gì cả!) khi đọc bài về ngành ấy, nhưng hiện tượng ấy có thể đổ lỗi cho người viết không? Người đọc ở ngoài ngành có lẽ cũng chẳng nên đọc những gì không hợp với mình, chứ chẳng nên yêu cầu bất cứ bài nào (như trường hợp trọn cả số Tập san kì trước đã bị) cũng dễ đọc và hấp dẫn.

Yêu cầu ấy mà thắng là chết học thuật, còn ai dám viết gì nữa? "Cao chê dỏng, thấp chê lùn", biết làm sao cho vừa lòng mọi người?

Vấn đề của ban biên tập là phải ấn định cho Tập san một tôn chỉ và một trình độ rõ rệt, tức là đáp câu hỏi: Ta viết cho ai? Ai đọc ta? Ai cần ta? Ta nhằm phục vụ cái gỉ?
Hình như chỉ có ở đây mới có dư luận khó chịu về trình độ các bài đăng trong số 5 kì trước. Chứ bất cứ ai trong các giới văn hóa (không riêng gì chuyên gia trong Viện Hán Nôm!) mà tôi đã gặp trong chuyến về nước cũng đều rất hoan nghênh số 5 ấy (cố nhiên không phải chỉ vì bài bé nhỏ của tôi, mà phần lớn hình như là vì bài đầu số 5, tức là bài của bản sư Hoàng quân)3, không thấy ai chê gì cả, mà trái lại chỉ đều yêu cầu chúng ta nhớ gửi về thật nhiều cho họ có tài liệu hay mà tham khảo. Ðó, độc giả lí tưởng của ta đó, trình độ văn hóa trong nước bây giờ như thế đó.

Trở lại ý của bạn tôi, khuyên tôi nên đi vào nội dung. Rất phải nhưng xin bạn đừng sốt ruột: Công việc khảo đính mới đang khởi sự thôi, chưa biết bao giờ mới tạm xong. Hiện nay chỉ là bước đầu, góp phần phục vụ cho sự chuẩn bị nghiên cứu nội dung, chứ chưa phải là nghiên cứu sâu xa. Vả mỗi ngành có cương vị của nó: Người khảo chứng, giải quyết cho tốt cái khâu văn bản học, cũng đã có công rồi. Nếu có khả năng kiêm cả cái khâu nghiên cứu thì càng hay, nhưng không dễ ai kiếm được nhiều tài năng như thế: Tôi biết gì về nông kĩ mà dám phê phán về nội dung những mục liệt kê hàng trăm giống lúa trong Vân Ðài Loại Ngữ, chẳng hạn? Ngược lại, chuyên gia về nghề lúa chưa chắc đã rành chữ Hán và chữ Nôm để thấy xem các mục ấy trong Vân Ðài Loại Ngữ đã được hai bản dịch A và B đọc đúng đến chừng mực nào.

Nếu cố gắng của tôi có thể đóng góp vào việc cung cấp cho học giới một văn bản Vân Ðài Loại Ngữ tương đối có bảo đảm về chính xác tính, giúp học giới bớt bị đánh lừa bởi các bản dịch hiện đang lưu hành chứa đầy sai lầm và mơ hồ, là tôi mãn nguyện rồi.
 

Xin kết thúc mục này bằng một minh họa, một tang chứng về sự "bất khả kháo" của các bản dịch Vân Ðài Loại Ngữ, đã có tai hại ra làm sao. Ðó là trường hợp về hai thiên thể là mặt trời mỗi ngày đi hết một vòng đường, và mặt trăng mỗi tháng đi một vòng cho nên trong nhiều ngôn ngữ có hiện tượng cũng là một từ mà khi thì chỉ mặt trời, khi thì chỉ ngày; một từ khác, khi là tháng, khi là trăng (như từ mens trong La-tinh). Nhưng đó là xét về gốc nghĩa trong từ ngữ, chứ trong câu nói, hay trong đời sống thì hai nghĩa rất tách bạch, không thể lẫn lộn được. Câu thơ của Xuân Diệu: "Trăng sáng trăng xa trăng rộng quá" chắc không có ai hiểu là "Tháng sáng tháng xa tháng rộng quá".
Thế mà đã có sự lầm lộn như vậ
y trong bản dịch Vân Ðài Loại Ngữ!
 

- Lầm mặt trời ra ngày và trăng ra tháng:

Trong Vân Ðài Loại Ngữ, chương II, mục 10 (bản dịch B, I, trang 103) Lê Quí Ðôn có trích một đoạn quan niệm về vũ trụ trong thuyết Tuyên dạ, rút từ chương "Thiên văn chí" trong Tấn thư (quyển XI), nói rằng "nhật (mặt trời) nguyệt (mặt trăng) và chúng tinh trôi lững lờ giữa hư không... ẩn hiện thất thường, tiến thối khác nhau, vì không có bám buộc vào đâu cả... Vậy nên Thần-cực (étoile polaire) thường ở nguyên tại chỗ, Bắc đẩu (Grande Ourse) không lặn về tây như các chúng tinh, Nhiếp đề (Jupiter) và Trấn tinh (Saturne) đều đi về đông, nhật đi được 1 độ thì nguyệt đi được 13 độ, nhanh chậm tùy tiện".
Ðoạn này, trong bản chữ Hán Vân Ðài Loại Ngữ có chép sai vài chữ, ở đây chưa cần nêu ra hết, chỉ xin nhận xét rằng con số 13 độ (thập tam) trong Tấn thư đã bị đảo lộn thành tam thập trong bản chép tay Vân Ðài Loại Ngữ, khiến các dịch giả đọc lầm là 30 độ. Hai bản dịch A và B đều ghép lầm hai câu cuối làm một mà dịch lầm như sau:

"Nhiếp đề ... đi về đông, mỗi ngày đi một độ, một tháng đi 30 độ"
Cố nhiên câu cuối trong đoạn Tấn thư ấy là nói về tốc độ đường đi mỗi ngày của nhật và  nguyệt, nhưng không thể hiểu hai chữ nhật nguyệt như hai dịch giả!
 
 

- Lầm ngược lại: dịch lầm nhật là mặt trời, nguyệt là trăng

Trong Vân Ðài Loại Ngữ, chương VI, mục 23 (bản dịch B, II, trang 142) có trích dẫn mấy tiếng Việt ghi trong bộ Tiềm xác cư loại thư của Trần Nhân-tích, cả thảy bốn từ, là 'trời' (thiên), 'đất' (địa), 'ngày' (nhật) và 'tháng' (nguyệt). Bản dịch B dịch đúng.
Còn bản Trần Văn Giáp thì sai: Sách Tiềm xác phiên âm từ ngày bằng một chữ có âm Hán Việt là ái (quan thoại đời Minh đọc là ngai), thế là bản A viết rằng "mặt trời là ái". Câu này đã lọt vào mắt một chuyên gia về thiên văn học, và đã đánh lừa ông rất thảm hại: Ấy là ông Bùi Huy Hồng, tác giả một bài rất nổi tiếng, là "Lịch thời Hùng vương trên mặt trống đồng Hoàng-hạ" (tập san Khảo cổ học số 14, tháng 2-1974).
Ở trang 57, ông Bùi viết rằng "những vòng tròn khép nhỏ đồng tâm có chấm ở giữa... đều là mô hình thiên cầu từng địa phương nước Văn-lang từ khoảng châu Ái tới 24 độ vĩ tuyến bắc".
Ở trng 59, ông lại viết: "Ngôn ngữ Khơ-me gọi mặt trời là A-thít. Âm này có thể là biến âm của tiếng Việt gọi mặt trời là Ái hoặc là Ác".
Ở cả hai nơi, ông đều có chú thích liên hệ đến bản dịch Vân Ðài Loại Ngữ của Trần Văn Giáp, tức là câu: "Mặt trời là Ái" trên đây.

Tục ngữ của ta có câu "Sai một li, đi một dặm", ý hẳn là đây. Một trong những niềm vui của tôi trong hè vừa qua là đã thấy văn bản học đang được đề cao trong giới nghiên cứu Hán Nôm, và ngay cả ở cấp chỉ đạo Ủy ban Khoa học Xã hội nữa: textologie!
Nhưng tôi cũng có gặp dư luận (giống như ở đây) cho rằng nó dễ đưa ta sa đà vào tật chẻ tóc làm tư, bỏ quên nội dung...
 
 
 
 

I.3. Phàm lệ mới
Mục này lấy lại một phần phàm lệ của bài kì trước, trang 72-73, nhưng có sửa và bổ sung để cho sự trình bày được phân minh hơn nữa.
 

1. Ðối tượng vẫn là chương IX, "Phẩm vật", trong Vân Ðài Loại Ngữ, nhưng khi thấy cần liên hệ với nội dung một số mục trong các chương khác, thì cũng trích luôn những mục ấy. Nên bài kì này không gọi là "Ðọc chương Phẩm vật" nữa, mà gọi là "Ðọc tiếp Vân Ðài Loại Ngữ".

2. Vẫn chỉ là tuyển một số mục thôi, cho hợp khuôn khổ Tập san. Vậy độc giả đừng ngạc nhiên khi thấy số thứ tự các điều mục có chỗ đứt đoạn.

3. Tôi vẫn chưa có thể tham khảo các bản chữ Hán nào khác ngoài bản chụp in kèm trong bản dịch B.

4. Xin nhắc lại rằng hai bản dịch mà tôi phê bình ở đây là bản của Trần Văn Giáp (Hà Nội, 1962), gọi là bản A; và bản của Tạ Quang Phát (Sài-gòn, 1972-1973), là bản B. Bản B không có đánh số các điều mục, nên tôi ghi thêm xuất xứ số Tập (I, II, III, tùy trường hợp) và số trang, tiện cho độc giả trong Nam và ở đây là những nơi mà bản A nay khó kiếm ra.

5. Khi viện chứng trong sách Trung-quốc, thường chỉ cần kể tên thiên chương, hay số quyển, riêng sử Thông giám thì chỉ cần ghi năm. Nhưng theo một vài bạn đồng nghiệp trong nước, như thế có khi bất tiện, vì có những chương rất dài. Vậy cũng có khi sẽ ghi thêm số trang (và tên bản in mà tôi dùng).

6. Cách trình bày mỗi mục: Vẫn cố gắng phân biệt cho thật tách bạch hai tầng lớp văn tự, một đằng là văn của "tiên nho" mà Lê Quí Ðôn trích dẫn // một đằng là văn bình luận và nhận xét của chính bản thân Lê Quí Ðôn. Giữa hai thứ ấy, đặt hai vạch nghiêng: //
Ðó là chính văn. Trong phần đó, chỗ cần khảo biện sẽ có đường gạch ở dưới.
Phần khảo biện của tôi đặt ở đoạn nằm dưới chính văn, ngăn cách bằng ba dấu  o (ooo).
Trong chính văn, mỗi khi tăng thêm chi tiết, sẽ đặt trong hai ngoặc [    ].

7. Ranh giới từ mục này sang mục kia: một đường vạch dài.

*
*   *




Lề lối trình bày bài kì này, như trình trên đây,  phản ảnh những gợi ý và đề nghị của một số bạn đọc xa gần. Bài này mà viết được, cũng là nhờ nhiều tấm lòng khuyến luyến của các bạn ấy. Vậy trước khi đọc tiếp Vân Ðài Loại Ngữ, xin có lời cảm tạ các vị, nhất là các bạn ở xa, đặc biệt là các bạn tỉnh Thái-bình, con cháu xứng đáng của ông Quế-đường.

*
*      *







II. Tiếp tục khảo đính và dịch chương Phẩm vật (Vân Ðài Loại Ngữ, IX)

IX. 8 (bản B, III, 126)
// Chu-tử bàn về cung thất, đống vũ (đòn nóc và mái nhà), điện ốc (cung điện), hạ ốc (nhà lớn), giai (thềm), đường (phòng giữa), phòng (các buồng nhỏ), tịch (chiếu?), của đời xưa, khảo cứu cực kì tường tận, chép đủ cả trong Văn tập và Toàn thư.

ooo
Vừa đúng vừa sai, đúng ít, sai nhiều.
Tôi chưa có dịp tìm đọc Chu-tử toàn thư. Sách này nay đã hiếm, vì là sách ngự toản để dâng vua, do Lí Quang-địa tuyển lựa tài liệu rút từ Văn tập và Ngữ loại, xếp đặt lại theo nội dung, thành 19 môn, dâng vua Khang-hi năm 52 (1713); học giới Trung-quốc cho là một bản bóp méo và xuyên tạc tư tưởng thày Chu, hơn hai thế kỉ nay, chẳng ai thèm tái bản cả. Vậy chưa biết sách này chép ra sao.
Trong Chu-văn công văn tập (nhất danh là Chu tử đại toàn), ở quyển 68 (đây tôi dùng bản trong Tứ bộ tùng san là bản chụp ảnh bản đời Gia-tĩnh), có hai bài khảo về các vấn đề nhà cửa.

Bài thứ nhất, nói về điện ốc và hạ ốc, có thể công nhận là đích xác của Chu-tử, vì không có ai dị nghị cả (sở dĩ có nhiều bộ phận trong Văn tập bị đời sau biện bác là không chân xác, là vì con cháu và học trò của Chu-tử, khi biên soạn toàn tập, đã đem vào đó tác phẩm của người khác, tỉ như trường hợp sẽ bàn dưới đây). Nhưng bài này vỏn vẹn có một tờ thôi, vừa ngắn ngủn, vừa không nói gì đến những gì không phải là điện ốc và hạ ốc. Sao có thể cho là "cực kì tường tận" được? Vậy chắc là Lê Quí Ðôn muốn nói đến bài thứ hai.

Bài thứ hai, nhan đề là Nghi lễ thích cung (khảo thích về chế độ nhà cửa và cung điện trong sách Nghi lễ), cả thảy là 13 tờ, quả là một công trình tường khảo, tìm ra nhiều tư liệu ngoài sách Nghi lễ, mà chú giải công phu, rất xứng với lời khen của Lê Quí Ðôn.
Nhưng bài này thật ra không phải là của Chu-tử! Quả thật Lê Quí Ðôn là người chịu khó đọc rộng, đích xác là ông có đọc toàn tập Chu-tử, và có chú ý rút ra những gì có thể bổ túc cho kho kiến văn bách khoa của ông. Nhưng Lê Quí Ðôn đã bị bản Văn tập kia đánh lừa. Mà khi soạn sách Vân Ðài Loại Ngữ (bài tựa của tác giả đề năm 1773), ông không có điều kiện phát giác ra.

Bài ấy, tác giả là Lí Như-khuê (tiến sĩ khoa 1192) chuyên trị về Nghi lễ, có soạn ra Nghi lễ tập thích (30 quyển) và bài Nghi lễ thích cung nói trên. Sách Trung hưng nghệ văn chí (nay còn trích dẫn trong sách Văn hiến thông khảo của Mã Ðoan-lâm) ghi rõ sự ấy, mà ghi thêm rằng Chu Hi đã từng cùng ông ta hiệu đính sách Lễ. Lời ghi này đáng chú ý, hé cho ta hiểu tại sao bài của họ Lí lại nằm trong toàn tập của họ Chu, như sẽ bàn thêm dưới đây.
Nhưng các tác phẩm của họ Lí đã thất truyền từ lâu, ngoài thoại chép tay duy nhất còn được bảo tồn trong pho loại thư Vĩnh lạc đại điền đời Minh. Mãi đến khoảng chung quanh những năm 1782, các nho thần được lệnh biên tập bộ Tứ khố toàn thư cho vua Càn-long, mới nhân dịp đó mà được đọc Vĩnh lạc đại điền, và tìm thấy trong ấy hai tác phẩm nói trên của Lí Như-khuê, có ghi tên và bài Tựa của tác giả. Ðã vậy thì nảy ra mối ngờ: Ai là tác giả đích thực bài Thích cung? Tại sao văn bản của thoại Ðại điền lại giống thoại trong Văn tập của họ Chu?

Bốn năm trước khi qua đời (Chu mất năm 1200), họ Chu có đốc suất môn sinh soạn ra một cuốn chú giải Nghi lễ, nhan đề là Nghi lễ kinh truyện thông giải. Trong cuốn này, những chỗ chú giải nhà cửa cung điện không giống tí gì với các lời tường khảo của bài Thích cung: Nếu bài này đích là do Chu soạn ra thì không có lí gì mà Chu lại không giao cho môn sinh chép vào Nghi lễ kinh truyện thông giải. Chu có quen biết Lí Như-khuê (xem lời ghi của Trung hưng nghệ văn chí, trên đây), một chuyên gia về Nghi lễ mà chắc Chu đã muốn tham khảo ý kiến trong khi chuẩn bị điều kiện cho sách Thông giải, và họ Lí đã cho họ Chu một bản sao bài Thích cung. Bản ấy nằm lẫn với các di cảo khác của họ Chu, và nhóm biên tập Văn tập sau khi họ Chu đã qua đời, tưởng rằng bài ấy do Chu soạn ra, nên đã đem nó vào Văn tập.

Trở lên là lược thuật sự biện luận của bài Ðề yếu trong sách Khâm định Tứ khố toàn thư tổng mục (1782), quyển 20, mục Lễ loại, II).
Cố nhiên là Lê Quí Ðôn không có điều kiện đọc Tứ khố đề yếu (sách này in ra dưới hình thức quan-bản, do nhà công xưởng Vũ-anh-điền, dù khi ấy Lê Quí Ðôn còn sống cũng khó mà tìm đọc), lại càng không thể lọt vào hoàng cung của họ mà đọcVĩnh lạc đại điền..

-------------------------------------------------------------------------





IX. 19 và nửa trên IX.20 (bản B, III, 132-133)
Câu "[Ư ngã hồ], hạ ốc cừ cừ" trong kinh Thi (thơ "Quyền dư"). Lời chú: "Hạ ốc là đại cụ (cỗ lớn), cừ cừ là cần cần (ân cần). Ý nói đãi ta bằng lễ cỗ lớn mà thết ta, ý tứ ân cần vậy". Ban đầu, không có chỉ gì về ốc vũ (nhà cửa). Trong sách kinh, nói đến hạ ốc, chỉ có chỗ ấy mà thôi.
Ðến sách Pháp ngôn của Dương Tử-vân mới nói: "Chấn phong lăng vũ, nhiên hậu trị hạ ốc chi vi biền mông" (có gió lay và mưa trần, sau đó mới biết công che chở của nhà lớn), thế là hiểu lầm 'hạ ốc' là 'ốc vũ' (nhà cửa).

ooo

Trên đây là trọn vẹn mục "Hạ ốc" của sách Thiên lộc chí dư (tác giả là Cao Sĩ-kù, 1645-1704), quyển thượng, tờ 84 (tôi dẫn bản khắc lại năm Gia-khánh thứ 4: 1799, trong bộ Thuyết linh, tiền tập), một tập bút kí mà Lê Quí Ðôn đã trích dẫn hơn mười mấy lần (tuy chỉ ghi rõ xuất xứ có hai lần!), và tôi tin rằng ông đã sao chép ở đây mục "Hạ ốc" rút từ nguồn ấy. Vì lẽ này: Mục ấy gồm hai đoạn, là hai bộ phận khăng khít của một chứng luận (démonstration), không phải do ngẫu nhiên mà đi đôi với nhau. Cũng không phải do ngẫu nhiên mà trong hai sách khác nhau lại có chứng luận dựa vào hai văn liệu giống nhau như thế, (trừ những chữ mà Lê Quí Ðôn đã bỏ bớt, tức là những chỗ tôi gạch đít ở dưới).
Ðoạn I không nói rõ lời chú về câu trong thơ "Quyền dư" là của ai. Ðó là lời Tiên (đúng như bản chữ Hán Vân Ðài Loại Ngữ của bản dịch B) của Trịnh Huyền (tức là nhân vật ám chỉ trong câu của Hoàng-phủ Thực mà tôi có trích trong bài kì trước, trang 73), một nhà chú giải ngũ kinh, đời Ðông Hán, đã có công phát huy Mao thi (tức là kinh Thi giải theo lời Truyện của Mao công).

Ở đây, không thể nói nhiều về cách hiểu câu thơ trong bài "Quyền dư", chỉ xin nhận xét vắn tắt rằng:

a- Thời xưa, không ai hiểu chữ "ốc" trong câu ấy như Trịnh (trừ Khổng Dĩnh-đạt đời Ðường, và Mao Thụy-thìn cuối đời Thanh). Trên đây, tạm dịch "đại cụ" là "cỗ lớn", là muốn tôn trọng cái đà lập luận, tuy vẫn cho là gượng ép.

b- "ốc" là nhà, "hạ ốc" là nhà lớn, là cách hiểu tự nhiên, phổ biến, không những ứng dụng trong kinh Thi (như Mao công và Chu tử đã hiểu), mà còn thấy trong thiên "Ðàn cung" ở Lễ kí, "Lục quốc niên biểu" ở Sử kí, quyển 15. Chứ đâu đợi đến Dương Hùng (trước Công nguyên 53 - sau Công nguyên 18)!

c- Chớ liên hệ hai chữ "hạ ốc" này với "hạ ốc" trong mục IX.8 trên đây: Trong mục này, chữ "hạ" có bộ Nghiễm; và "hạ ốc" này chỉ thấy trong văn từ đời Tam-quốc trở đi mà thôi.

-------------------------------------------------------------------------------




Nhận xét gộp chung bốn mục IX.31-34 (bản dịch B, III, 138-139)
Gốc văn bốn mục này hình như đều rút từ loại-thư Tam tài đồ hội (soạn xong năm 1607), tuy rằng Lê Quí Ðôn chỉ nêu xuất xứ ấy ở mục IX.32 thôi. Tôi chưa tiện tìm đọc loại-thư ấy, nên không dịch lại trọn văn bốn mục này. Chỉ xin có vài nhận xét dựa trên những sách gốc của Tam tài đồ hội.

a- IX.31. Sách Thích tạng chỉ qui, tên gọi đầy đủ là Thích tạng âm nghĩa chỉ qui là một sách đã thất truyền, hình như chỉ còn vài đoạn lưa lại trong sách loại-thư đời Minh (và bởi thế mà tôi nghi Lê Quí Ðôn chỉ đọc được nó trong Tam tài đồ hội). Ðời Lục-triều, các văn nhân hay phỏng theo cử chỉ và phong thái các vị sư, những khi đàm luận thì tay cầm cái phất trần làm bằng lông đuôi con chủ (chủ vĩ). Tục ấy thấy kể nhan nhản trong sách Thế thuyết tân ngữ của Lâm-xuyên-vương Lưu Nghĩa-khánh. Trong bản Hiệu tiên về sách Thế thuyết, của giáo sư Dương Dũng (Hồng-kông, 1969, Ðại chúng thư cục), mục II.52, chú giải về danh từ "chủ vĩ", cũng thấy ghi xuất xứ là sách Thích tạng âm nghĩa chỉ qui : chắc cũng là mượn trong loại-thư.

b- IX.32. Sách Thực lục, tên gọi đầy đủ là Nhị nghi thực lục, cũng là sách chỉ còn trích đoạn trong loại-thư đời Minh và đời Thanh. Tên sách và tên tác giả là Lưu Hiếu-tôn, thấy ghi trong Quốc sử  kinh tịch chí, q. III, sử loại, mục Xa phục, của Tiều Hoằng (1541-1620) (xem bản Minh sử Nghệ văn chí, kiêm Bổ biên và Phụ biên của nhà xuất bản Thương vụ, Thượng-hải, 1959, II, 889).
Sách Uyên giám, q. 381/13b, cũng trích dẫn đoạn văn giống như ở mục IX.32 này, mà ghi xuất xứ là Nhị nghi thực lục.

c- IX.33.
c-1 Câu đầu, cả hai bản dịch A và B đều hiểu sai câu trích sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, mục chữ Trất (thiên thứ 6, thượng, bộ Mộc, chữ thứ 271). Câu ấy, đáng lẽ phải đọc: "Trất, sơ tì tổng danh dã" (Trất là tên gọi chung lược thưa và lược khít), lại bị hai dịch giả đọc lầm ra: "Trất-sơ, tì tổng danh dã" (A: Trất sơ là tổng danh của lược; B: Trất sơ là tiếng gọi chung các thứ lược).

c-2 Câu thứ hai: "Nam nữ bất đồng cân trất" (trai gái không dùng chung khăn lược), xuất xứ là Lễ kí (thiên "Khúc lễ", thượng, 24) chứ không phải là Gia lễ (như ghi trong bản dịch A), cũng không mơ hồ như bản B đã hiểu (Theo lễ thì...).

c-3 Lược khít, răng nhỏ và mau, ta gọi là lược bí, đó chính là dạng âm cổ của một từ Hán có mấy cách viết (                  ) và mấy cách đọc Hán Việt khá rối loạn, như phản ảnh trong cách phiên âm của hai bản dịch A và B (trong hai mục IX.33 và 34: tỳ, bế, bị). Trên đây, khi dẫn câu trong Thuyết văn, tôi đã tạm đọc là tì, là muốn ghi âm Hán Việt thông thường, theo qui tắc âm b- (đứng trước i) Hán cổ chuyển ra t- Hán Việt. Nhưng cái tên lược bí của ta chứng tỏ rằng âm 'nôm' lưu truyền trong tiếng nói bình dân bảo tồn âm cổ bền hơn âm 'nho' Hán Việt.

Nay có lẽ nên thống nhất cách đọc, và chọn âm bí. Ðể chấm dứt tình trạng phiên âm tùy tiện như trong bài Tì bà hành có câu (câu 49, diễn ca của Phan Huy Thực là: 'Vành lược bạc gãy tan nhịp gõ') nguyên tác là 'Ðiền đầu ngân bí kích tiết toái', các sách tuyển dịch thơ Ðường, hoặc biên tập riêng về Tì bà hành, phiên âm chữ     là tì (nhóm Hoa Bằng và Tảo Trang), là bề (Trần Trọng Kim và hầu hết các sách trong Nam), là bí (Trần Trọng San).

d- Gốc văn:
d-1 IX.33 Câu:
"Vậy lược bí là do lược thưa mà chế ra. Lược bí ngày nay là chế theo kiểu nhà Chu"
 không phải là nhận xét của Lê Quí Ðôn, cũng không phải của Tam tài đồ hội, vì đã thấy trong sách Cổ kim sự vật khảo, 6/27b, của Vương Tam-sính, tiến sĩ khoa 1535. Sơ bản, in năm 1563, nay còn (nhà Thương vụ ở Ðài-loan có chụp ảnh, tái bản năm 1973).

d-2 IX.34 Câu:
"Nhà tu dưỡng gọi lược thưa là Mộc xỉ đan, cho rằng mỗi ngày, vào sáng sớm, chải đầu 1000 lần, từ trên chải xuống, thì tóc bền và khử phong (đuổi được gió tà?), mặt mày sáng sủa"
 như tôi thấy chép trong sách Ngũ tạp tố (nhất danh: Ngũ tạp trở, như ở bản in trong bộ Quốc học trân bản văn khố của nhà Thương vụ năm 1935, và như Lê Quí Ðôn cũng đã ghi 3 lần trong Vân Ðài Loại Ngữ, IX.82, 94, 181) của Tạ Triệu-chế, tiến sĩ khoa 1592 (tức là tác giả Tạ Tại-hàng mà Vân Ðài Loại Ngữ có ghi tên ở mục IX.195; Tại-hàng là tên chữ của họ Tạ này), có lẽ là gốc văn  mà Lê Quí Ðôn đã sử dụng (và có bỏ đi mấy chữ mà tôi gạch dưới; và có đổi vài chữ). Mà là chép trực tiếp từ Ngũ tạp tố (q.XIII/20b, trong bản khắc đời Vạn-lịch do nhà Tân hưng thư cục chụp ảnh in lại, Ðài-loan, 1971), chứ không cần xuyên qua Tam tài đồ hội, vì có chứng (như tôi đã kê) tỏ rằng Lê Quí Ðôn có đọc sách ấy.

d-3 Ðào Cốc (dẫn ở IX.34) là người đầu đời Tống, mất năm 970 (xem truyện trong Tống sử 269), tác giả sách Thanh dị lục (như bản dịch B, III, 139, có chú thích) mà Vân Ðài Loại Ngữ có trích dẫn và ghi xuất xứ 6 lần: IX.28, 28, 49, 56, 207, 209. Câu trích ở IX.34 chắc cũng là rút từ đó. Thoại Thanh dị lục mà Lê Quí Ðôn sử dụng có thể là bản trong Thuyết phu 119. (Tôi chưa có dịp tìm đọc Thuyết phu, nhưng mỗi khi gặp tên sách trong Vân Ðài Loại Ngữ mà, bằng cách tra trong Trung-quốc tùng thư tổng lục, tôi biết là có in trong Thuyết phu, hay Thuyết phu tục, tôi nêu lên, để tiện cho những ai (không cứ hẳn là tôi, mà là bạn đồng nghiệp xa gần) sẽ tiếp tục bổ sung cho việc hạch chứng văn bản Vân Ðài Loại Ngữ.)

d-4 IX.35 Truyện Cao lực sĩ: Xem Thuyết phu 111.

----------------------------------------------------------------




Nhận xét gộp chung về IX.37 và 38 (bản B, III, 140-141), nói về đóm diêm.

a- Gốc văn: Trừ câu cuối IX.38 là của Lê Quí Ðôn, nói rằng cách làm đóm diêm của người nước ta cũng giống như bên Tàu, còn thì trọn vẹn văn hai mục ấy đều là rút từ một gốc duy nhất, và trực tiếp, là thiên Ủy hạng tùng đàm, mà Lê Quí Ðôn có ghi tên ở đầu mục IX.37, và tưởng lầm là của một tác giả đời Tống. Hai dịch giả A và B lại tưởng lầm rằng đó là một cuốn sách.
Thật ra chỉ có một thiên, gồm 5 chương, trong sách Tây hồ du lãm chí dư của Ðiền Nhữ-thành (tiến sĩ khoa 1526). Sách chuyên sưu tập dật sự về sinh hoạt ở Hàng-châu đời Nam-Tống (vì vậy mà Lê Quí Ðôn tưởng là tác phẩm đời Tống), rút từ các sách tạp kí đời cuối Tống và đời Nguyên: Xem bản in lại của Trung-hoa thư cục, Bắc-kinh, 1965, trong ấy thiên "Ủy hạng tùng đàm" nằm ở quyển 21 đến 25, và trọn văn trích trong Vân Ðài Loại Ngữ/IX.37-38 nằm ở quyển 25, trang 450, không có gì là nghi ngờ được cả.
Nhưng Lê Quí Ðôn hình như không có đọc cuốn Tây hồ của họ Ðiền, mà chỉ biết văn của ông này qua thoại trích thiên "Ủy hạng" trong Thuyết phu tục, 18.

b- Gốc của gốc: Nhữ-thành là người đời Minh, khi kể chuyện về phong tục đời Tống, chắc cũng phải lấy văn liệu của sách đời Tống hay gần đời Tống chứ? Vậy gốc của ông là gì?

b-1 Gốc có ghi rõ, ở đoạn thứ hai (Vân Ðài Loại Ngữ/IX.38), là sách Thanh dị lục của Ðào Cốc (tôi mới nói đến ở trên) mà Lê Quí Ðôn cũng có thể đọc trực tiếp trong Thuyết phu 119. Tôi chưa đọc Thuyết phu. Nhưng tra mục "Hoả thốn" trong Dai Kan Wa jiten (Ðại Hàn Hoa từ điển) của Morohashi Tetsujo (Chư-kiều Triệt-thứ), VII.365.3, cũng thấy trích Thanh dị lục (mà là trích cẩn thận, đó là điểm sở trường của bộ từ điển này, hơn hẳn tự vì Tàu và tự vị ta nhiều lắm; lại có ghi chi tiết tường tận: thiên "Khí cụ", mục "Hoả thốn"), tôi thấy có thể tin vào sự giống nhau của hai thoại trích Thanh dị lục (1: bản in sách Tây hồ của nhà Trung-hoa thư cục; 2: Morohashi Tetsujo) mà sửa một chữ chép sai trong bản dịch A (chứng rằng bản Vân Ðài Loại Ngữ mang kí hiệu A.141 mà Trần Văn Giáp đã cho là chính xác nhất trong các bản chép tay, có chỗ cũng chưa đảm bảo cho lắm): Người Hàng-châu gọi đóm diêm là 'dẫn quang nô' (thoại Vân Ðài Loại Ngữ chữ Hán của bản B không chép lầm, chứng rằng lầm của bản A.141 không thể đổ lỗi cho Lê Quí Ðôn), chứ không phải là 'dẫn hỏa nô'.

b-2 Gốc không ghi rõ, ở đoạn đầu (Vân Ðài Loại Ngữ/IX.37), làm như văn đoạn này là của tác giả thiên Ủy hạng tùng đàm. Ðấy là khuyết điểm lớn của Ðiền Nhữ-thành: các gốc văn mà ông vay mượn, ông không ghi xuất xứ ở mỗi điều trích dẫn, mà chỉ kê gộp ở một danh sách nằm rất hẻo lánh trong quyển 21 của sách Tây hồ (xem bản in 1965 đã dẫn, tr. 386-387). Tôi đã thấy chứng hé cho biết gốc văn đoạn này: Ðó là sách Chuyết canh lục của Ðào Tông-nghi (người đã biên tập bộ Thuyết phu, cuối Nguyên, đầu Minh, nửa sau thế kỉ XIV). Tuy chưa có dịp tìm đọc Chuyết canh lục, nhưng tra trong sách Thông tục biên của Ðịch Hạo (tiến sĩ khoa 1754), cũng thấy đoạn văn ấy, mà có ghi xuất xứ là Chuyết canh lục (xem bản Thông tục biên của nhà Thương vụ, Thượng hải, chụp ảnh in lại ở Ðài-loan, 1977, quyển 26, trang 592), tôi nghĩ rằng đó là gốc cổ nhất. Ðó là hướng để khảo chứng thêm, khi nào tiện.

Ðoạn này (IX.37), bản dịch A có mấy chỗ chưa ổn: Người ta chẻ gỗ thông ra thành phiến mỏng như giấy, rồi đun lưu hoàng cho chảy ra và bôi vào đầu phiến gỗ kia (y như diêm ngày nay), chứ đâu có đem nấu gỗ mỏng ấy trước khi dúng vào lưu hoàng! (Thật ra bản A in lầm chữ nấu ra đấu, càng vô nghĩa). Bản B dịch đúng hơn.
Ðóm diêm ấy, người Hàng-châu gọi là phát-chúc, cũng gọi là thối-nhi.
Chữ thối, bản A đọc lầm (hoặc in lầm) là thốt. Bản B cũng lầm, lầm cách khác, đọc là suất, vì không kiểm tra văn gốc, bị bản chữ Hán chép tay đánh lừa. Bản này viết lầm ra chữ       .

-------------------------------------------------------------------------------------------




IX.39 (bản dịch B, III, 141), chép về cống phẩm vua Trần nước ta sai đem sang cho nhà Nguyên: Có giả sơn (hòn non bộ) bằng gỗ trầm hương, trấn chỉ (vật chắn giấy) bằng ngà voi, giá gác bút bằng thủy tinh.
Xuất xứ ghi là Nguyên sử. Ðoạn này là một sử liệu đáng chú ý. Thế mà không thấy các sử gia hiện đại sử dụng. Có lẽ vì khi kiểm tra lại, họ chưa tìm ra đoạn ấy nằm ở chỗ nào trong Nguyên sử, nên chưa tin cho lắm.
Ðoạn ấy ở trong quyển 130: Xem bản Nhị thập ngũ sử của nhà Khai minh thư điếm, trang 6444, cột 2.

----------------------------------------------------------------------------------------

IX.40
Sách Ðông thiên thanh lục của Triệu Hi-hộc đời Tống: Trong Thuyết phu 95.
 


-------------------------------------------------------------------------------------------



IX.41 (bản dịch B, III, 141-142)
(Mục này gồm tầng thứ khá rắc rối. Tôi sẽ đánh số mỗi đoạn riêng để tiện chú thích. Sau đây, tôi dịch trọn:)
1) Khổng Dĩnh-đạt nói:
2)" Giản là trát.
3) "Sách là giản. Thể chế: cái dài thì 2 xích (thước), cái ngắn thì nửa cái dài.
4) Cầm từng thẻ trát một, gọi đó là giản. Bện liền các giản, mới gọi là sách.
5) Giản chỉ chứa được một hàng chữ thôi. Ðộc là ván vuông (phương bản), ván rộng hơn giản, có thể chứa được mấy hàng chữ.
6) Xưa, việc lớn chép vào sách, việc nhỏ chép vào giản [độc].

ooo

a- Câu 6, trừ chữ "xưa" (do Lê Quí Ðôn thêm vào) là một câu trong bài Tựa của Ðỗ Dự (222-284) đặt trước sách Tả truyện mà Ðỗ là người chú giải. Câu 6 này là chính văn (bởi thế nên tôi in đậm) mà Khổng Dĩnh-đạt (574-648) chú giải.

b- Câu 1 ám chỉ lời 'Sớ' (tức là chú giải mới để giải thích chú giải cũ) của Khổng Dĩnh-đạt, cũng gọi là Tả truyện chính nghĩa, nay in gộp với 'Sớ' về các kinh truyện khác trong bộ Thập tam kinh chú sớ. Các câu từ 2 đến 5 đều năm trong lời 'Sớ', nhưng chỉ có hai câu 4 và 5 là lời nói của Khổng Dĩnh-đạt, còn câu 2 và 3 là lời của người khác mà Khổng Dĩnh-đạt trích dẫn để minh họa cho lời bàn của mình. Chỉ cần giở Chính nghĩa ra mà tra thì thấy ngay 'người khác' đó là ai.

c- Câu 2 là định nghĩa trong chú giải của Quách Phác (276-324) về sách Nhĩ nhã, thiên "Thích khí".

d- Câu 3 là trích sách Ðộc đoán của Sái Ung (133-192).

e- Câu 4 và 5 mới thật sự là lời của Khổng Dĩnh-đạt chú giải thêm cho rõ nghĩa của hai câu 2 và 3 và nhất là của câu chính văn (câu 6). Trong câu 6 này, ở cuối, có chữ độc (mà các bản chép tay Vân Ðài Loại Ngữ chữ Hán bỏ sót), vì thế mà câu 5 mới so sánh giản với độc. Nếu bỏ đi chữ độc, ta sẽ không hiểu tại sao Lê Quí Ðôn lại trích dẫn câu 5 làm gì.

Về vật liệu dùng để viết lách, và về thể chế liên quan đến các vật liệu ấy, trong sách Vân Ðài Loại Ngữ còn có vài mục ghi chép, nằm ở chương khác. Trước khi đọc tiếp tới các mục IX.42-45, tưởng cũng nên gộp lại ở đây, cho tiện tham khảo, đỡ phân tán:

------------------------------------------------------------------------------------------

VI.70 (bản dịch B, II, 156)
1) Qui điền lục của Âu-dương Tu: "Người đời Ðường tâu việc, nếu không phải là biểu hay là trạng, gọi đó là 'bảng tử', cũng gọi là 'lục tử'. Nay gọi là 'tráp tử'.
2) Sách Ngôn chinh [của Lữ Chủng-ngọc, quyển thượng] trong bộ Thuyết linh [hậu tập] nói:
" Cô là tấm 'độc' (ván gỗ) để học viết, hoặc để kí sự (chép việc); gọt gỗ mà làm ra, hoặc 6 hoặc 8 mặt đều có thể viết chữ; vì có góc cạnh, nên gọi là 'cô'. Trong Văn tuyển có chữ 'thao cô' (và) 'tiến độc' (giơ cô, dâng độc).

ooo

Nhận xét:
a- Câu 1 đích là có trong sách đã dẫn: quyển 2/10b, cũng tức là quyển 127 trong Âu-dương Văn-trung-công văn tập (có bản chụp ảnh in lại, trong Tứ bộ tùng san). Nhưng chưa chăc là Lê Quí Ðôn đã tham khảo thoại của Văn tập, mà có lẽ chỉ đọc bản Qui điền lục tách rời ra khỏi Văn tập và có in trong Thuyết phu 40.
Trong Vân Ðài Loại Ngữ, có 10 xuất xứ ghi là trích dẫn Qui điền lục: IV.43,, V.39, VI.70, VIII.35 (không phải là VI.35 như sách dẫn của bản dịch A, trang 292, đã in lầm) , VIII.57, IX.90, 123, 202, 208. Lại có một trích dẫn bỏ sót xuất xứ: VI.59.
Chữ nay ở đoạn cuối câu 1 là nguyên văn của thoại Văn tập. Người đời sau đổi ra 'người Tống' (như trong Vân Ðài Loại Ngữ). Sách Ngôn chinh (quyển hạ) có trích câu ấy (mà không ghi xuất xứ: đây là khuyết điểm lớn của sách này, tôi sẽ nêu thêm chứng cứ dưới đây, và của một sách khác trong Thuyết linh mà Lê Quí Ðôn ưa trích dẫn là Thiên lộc chí dư), cũng đổi chữ nay ra người Tống. Nhưng không bỏ rơi câu "Cũng gọi là 'lục tử'" như trong Vân Ðài Loại Ngữ.
Trong danh từ tráp tử, chữ tráp bị bản dịch A đọc lầm là tháp. Âm tráp chính là âm bảo tồn trong tiếng Việt thông thường, mà Trần Văn Giáp có nhắc đến trong chú thích, mà không ngờ đó cũng là âm 'nho' chính xác (như có ghi trong tự vị của Thiều Chửu, tuy tự vị này viết sai chính tả ra cháp).

b- Ðoạn 2, mà Lê Quí Ðôn đã rút từ Ngôn chinh, thật ra Lữ Chủng-ngọc đã chép (mà không ghi xuất xứ. Không bao giờ họ Lữ chịu ghi xuất xứ. Thật là "nhai văn nhá chữ nghĩ mà buồn tênh". Buồn cho tác phong của văn nhân cuối Minh, đầu Thanh) một đoạn y nguyên (chỉ bỏ bớt vài chữ) trong sách Tô-thị diễn nghĩa của Tô Ngạc, tiến sĩ khoa 886, năm Quang-khải thứ 2, đời Ðường Hi-tông: Xem bản của nhà Thương vụ, Thượng-hải, 1956, in gộp với Cổ kim chú của Thôi Báo (đời Tấn) và Trung-hoa cổ kim chú của Mã Cao (đời Hậu Ðường), quyển hạ, trang 18.
Cả mấy chữ trong Văn tuyển cũng là mượn lại trích dẫn của Tô-thị diễn nghĩa!

Mấy chữ bí hiểm ấy là lấy ra từ hai nơi khác nhau trong tập Văn tuyển của Chiêu-minh thái-tử (Tiêu Thống) đời Lương:

* thao cô, lấy từ quyển 17, trong bài "Văn phú", câu 29, của Lục Cơ (261-303):
"Hoặc thao cô dĩ suất nhĩ"
(có khi giơ tấm gỗ 'cô' mà viết lia lịa)
Xem chú giải về bài phú nổi tiếng này trong Ngụy Tấn Nam Bắc triều văn học sử tham khảo tư liệu (1962, nhà Trung-hoa thư cục, Bắc-kinh, in lần thứ 5 năm 1978, tr. 257, chú thích 11) và trong Hán Ngụy lục triều phú tuyển (1964) của Cù Thuế-viên (Cù Tuyên-dĩnh), tái bản 1979 của nhà Thượng-hải xuất bản xã, trang 122, chú thích 43.

* tiến độc, lấy từ quyển 13, trong bài "Nguyệt phú", câu 8, của Tạ Trang (421-466):
Trừu hào tiến độc
(rút bút lông và dâng ván viết).
Xem Cù Thuế-viên, sách đã dẫn, trang 184, chú 18.

Bản chữ Hán Vân Ðài Loại Ngữ của bản dịch B có chép câu:
gọt gỗ mà làm ra (tước mộc vi chi)
Câu này không thấy trong bản dịch A: Thêm một chứng về nhược điểm của bản chữ Hán Vân Ðài Loại Ngữ mang kí hiệu A.141.

Câu đầu trong đoạn 2, bản A cũng dịch sai là:
Cô là thứ ván gỗ, để học, hay viết.
Chỗ gạch dưới, không có trong nguyên văn, vậy nên bỏ đi.

----------------------------------------------------------------

VI.83 (bản dịch B, II, 160)
1) Ðời xưa, thẻ giản dài hai thước, cái ngắn thì nửa cái dài.
2) Vương Lăng đời Ngụy nói Tư-mã Ý: "Cứ vời tôi bằng cái chiết giản". // Chiết giản, cũng như cái giản ngắn một nửa (trên đây).

ooo

a- Câu 1 chính là câu định nghĩa (của Sái Ung) mà ta đã đọc ở câu số 3 trong mục IX.41 trên đây mấy trang. Vì vậy tôi không khảo chứng lòng thòng, mạnh dạn chữa chữ nói về bề dài của thẻ giản dài: hai thước, chứ không phải một thước như các bản Vân Ðài Loại Ngữ chữ Hán đã viết lầm (lầm nhị ra nhất) và đã đánh lứa hai dịch giả A và B.

b- Trong câu 2, nhân vật thứ nhất là một người sống cuối đời Tào Ngụy (Tam-quốc), họ Vương, tên Lăng; chứ không phải ông ta họ Ngụy, tên Vương Lăng; như hai bản dịch A và B đã phiên âm một cách cẩu thả, có thể gây hiểu lầm cho độc giả bây giờ không rành chuyện đời Tam-quốc nữa.
Câu nhận xét của Lê Quí Ðôn về nghĩa của danh từ "chiết giản" có phần gượng ép, e là không đúng. Ðời Tam-quốc, không còn ai dùng thẻ giản. Chữ giản đã chuyển nghĩa, và chỉ có nghĩa là thư từ viết trên giấy thôi. "Chiết giản" là tờ giấy bé, ngắn, vỏn vẹn vài chữ.
(xem tiếp kì sau)

Tạ Trọng Hiệp
(trích Tập San Khoa Học Xã Hội số 6, tháng 12-1979, trang 39-54)
Hợp Lưu số 35, tháng 6&7 / 1997
-----------------------------------
Chú thích tòa soạn:
Sau bài này, gs Tạ Trọng Hiệp đã không viết tiếp được nữa; việc khảo đính đến đây dang dở. Hợp Lưu ước mong các học giả trong và ngoài nước tiếp tục công việc này.
1 Hợp Lưu xin mạn phép bỏ hết những chữ viết tắt cho dễ đọc.
2 Hợp Lưu xin mạn phép in nghiêng những chữ mà gs Tạ Trọng Hiệp gạch dưới,  cho dễ đọc.
3 2 bài của giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong Tập san Khoa học Xã hội số 5: Văn nôm và chữ nôm đời Trần-Lê, Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử.